Émile Ajar và Hồi kết của Cái không thể

Roman Kacew quả nhiên là người luôn đặt hứng thú vào những hồi kết của mọi câu chuyện. Trong Lời hứa lúc bình minh (1960), Kacew từng tự hào kể về thành tích viết được ít nhất 20 chương cuối tiểu thuyết, mặc dầu những chương trước đó bỏ trắng. Cũng ở thiên truyện này, ông thú nhận mình say mê trò chơi tung hứng, lĩnh vực của điều bất khả đã đạt tới và thực hiện được. Vùi mình vào hồi kết của những thỏa nguyện về vinh quang, Kacew sớm hiểu được mỗi con người đều ra đời với một sứ mệnh thiêng liêng, dầu trong tâm thế của kẻ thua cuộc. Và cũng chính ông, sau mọi nỗ lực vươn tay bắt lấy quả bóng cuối cùng, rốt cuộc cũng nhận ra quả bóng ấy không hề tồn tại.

Trong Quấn-Quít (Gros-Câlin, 1974), tác phẩm đầu tiên được kí dưới bút danh Émile Ajar, Romain Gary để lại nhiều hơn một dấu vết cho những ai lấy làm tò mò về tác giả mới đầy triển vọng này. Pete – Kẻ Chuyên Chẹt Cổ, con trăn tuyệt đẹp dài đến bảy mét mê hoặc Gary bởi tư thế thước thợ của nó, tư thế tự vệ của một sự cảnh giác cao độ trong các quan hệ với con người từ thời Chó trắng (1970), trở lại trong hiện thân mới, chú trăn Quấn-Quít, dài hai mét hai, làm bạn với Cousin, trong một căn hộ giữa đại Paris. Sự cộng hưởng vật lí, mối đồng cảm chọn lọc Cousin nhận ra ở Quấn-Quít, tự thân nó đã là phép tháo gỡ mọi khúc mắc về mối liên đới lạ lùng này. Ajar nhấn vào một ý nghĩa theo đúng nghĩa đen của nghĩa bóng về hình tượng con trăn. Lột xác, phục sinh, biến cải, hứa hẹn, và hy vọng: Cousin tìm thấy ở Quấn-Quít một vị trí bên-ngoài nhằm hiểu hơn cái sự thể bên-trong của mình. Hơn hết, chính ánh mắt của Quấn-Quít, nơi sự vô tri hiện diện chân thực, mới là nguồn cung ứng sức mạnh cho sự yếu đuối không thể cưỡng nổi của anh. Con trăn hiện thân cho sự mềm mại và trơn trượt, một dấu chỉ phong cách rất Romain Gary, người luôn thích nắn chỉnh những xơ cứng giới hạn vốn vẫn hợp thức hóa sự tồn tại của xã hội.

Trở lại với hồi kết của cái không thể, ở cuốn tiểu thuyết này, ta dễ dàng nhận ra cái nhìn của Kacew: tự do đối với con người chỉ là một nhầm lẫn đáng tiếc. Đôi khi tôi có cảm tưởng ta sống trong một bộ phim lồng tiếng và mọi người ai nấy đều mấp máy môi nhưng nó lại chẳng ăn vào với tiếng. Ta thảy đều được đồng bộ hóa sau và đôi khi nó được làm tốt quá, ta đâm tưởng đấy là tự nhiên (tr. 103). Cảm tưởng này, về sau biến thành nỗi choáng ngợp đối với Momo trong tác phẩm Cuộc sống ở trước mặt (tác phẩm đoạt giải thưởng Goncourt năm 1975) khi cậu tiếp xúc với thế giới của những diễn viên lồng tiếng. Giữa khối thị Paris mười triệu người, Cousin trốn trong vỏ bọc thế giới tưởng tượng và không tài nào đánh tiếng về sự có mặt của mình. Không có quyền lựa chọn căn cước, hay hồi kết cho số phận, Cousin duy chỉ làm được một điều duy nhất, vay mượn giọng nói và đối thoại với thế giới đảo ngược như trong phòng lồng tiếng. Tính hài hước của câu chuyện bật ra từ chính sự đảo ngược mọi giá trị và suy nghĩ, đặc biệt thể hiện ở mối tình Cousin – Dreyfus, cô đồng nghiệp người Guyane đã nợ Pháp ngữ tên mình nhờ ông Dreyfus. Cuốn sách không dừng lại ở bi kịch của con người cô đơn, nó còn bao gồm những vấn đề thời sự nổi cộm, mà mấu chốt là sự nhân danh giả dạng của đạo đức và văn minh. Tiểu thuyết như mạng lưới đính kết của những sự kiện và tình tiết tưởng chừng chẳng ăn nhập, trong khi nhân vật “tôi” luôn miệng khẳng định tôi chỉ đang bám theo mạch tư duy của mình. Lời cam kết này đã ngăn Cousin không đi quá xa, một cách hóa thân, nhưng không biến dạng, đồng thời cũng tiến đến gần hơn hồi kết của cái không thể.

Gạt đi tất cả những lí do cản trở con người có được niềm vui sống, Roman Kacew nuôi lớn niềm tin: con người chính là tạo vật trong mơ. Chỉ cần ai đó để yêu thương, ai đó có thể nhận diện sự tồn tại của mình, con người đủ sức vực mình dậy khỏi những nhãn mác nhân danh vô nghĩa. Sau tất cả, Romain Kecew, Romain Gary, Émile Ajar, Shatan Bogat hay Fosco Sinibaldi không gì khác chính là danh xưng của những lớp da liên tục bị bục ra và rụng đi. Chúng ta trở lại đối diện với hình ảnh của một con người đã không chút ngại ngần nhúng mình vào những tình cảnh gay go nhất, một cách vắt kiệt khả năng để xóa mờ mọi giới hạn của bản thân, và cũng đầy kiêu hãnh, chọn cách hạ màn bằng cú tiếp đất không hụt hơi, đôi mắt vẫn hướng về phía mặt trời hòng tìm kiếm những giá trị bất diệt, bất dịch. Quấn-Quít là một minh chứng cho thấy, khi đứng trước viễn cảnh thua cuộc hay hồi kết của cái không thể, nỗi tuyệt vọng thực sự đã trở thành liều thuốc tái sinh những khởi đầu đáng mơ ước hơn bao giờ hết.

  1. Chúng ta ai cũng có vấn đề thân phận cả. Ta tìm ta, ta tìm mình. Này kia đây đó, chỗ nọ chỗ kia. (tr. 87)
  2. Có lẽ tình yêu là hình thức đối thoại đẹp đẽ nhất đã được con người sáng tạo ra để đáp lại chính mình. (tr. 84)
  3. Tôi nghĩ bội là căn bệnh chung và thế giới này bị bội tình không sao tiêu róc được, đâm sinh bẳn tính và tranh giành. Có cả một kho hàng yêu thương đồ sộ đang hoài đi và thoái hóa trong thành lòng, kết quả của hàng ngàn năm chi chút, tích trữ, bỏ ống yêu thương, mà không có ống xả nào khác ngoài đường tiết niệu. Thế nên mới có suy phát với đô la. (tr. 71)
  4. Cuộc sống là một việc nghiêm chỉnh, vì tính tầm phơ của nó. (tr. 49)

Về một cọng rơm bên đầm Walden

cho đến thời điểm này trong năm, mình luyện công nhìu với Trật tự ẩn, Walden, và 1 bác nữa sắp bật mí. 2 cuốn đầu đều do 1 người dịch. 

anw, mình đã kết thúc năm 3 zùi, nghỉ hè zùi, sau mấy ngày ăn ngủ giờ lười ghê @@

Với Walden[i], Henry David Thoreau (1817-1862) đã tìm thấy lời đáp cho mình khi đứng trước một trong những vấn đề triết học lớn, suy cho cùng đâu mới là cuộc hành hương dài hơi và khó nhọc nhất trong đời mỗi người. Thoreau xuất phát từ nhận thức về con người vốn là những sinh thể lầm lạc, nhưng họ không đủ can đảm tìm lối thoát, tệ hơn nữa, họ không ý thức được bi kịch của mình. Không tự nhận là người thông thái, song niềm tin về sự kiên nhẫn trong mọi nỗ lực tìm đường đã đưa ông đến gần với linh hồn của triết học Đông phương, về tính Đạm hiện diện như một phương thức cứu rỗi.

Continue reading Về một cọng rơm bên đầm Walden

45 years (2015)

again, lại giọng báo chí. 

Chuyển thể từ truyện ngắn In Another Country của David Constantine, Andrew Haigh chọn cách lấp đầy, đồng thời mở rộng những khoảng trống truyện kể bằng một dẫn dắt tự sự thông minh và tinh tế. Diễn xuất hoàn hảo của Charlotte Rampling và Tom Courtenay đã khiến cho nỗ lực chuyển thể của Haigh được thăng hoa.

Continue reading 45 years (2015)

MUSTANG – Sự tháo chạy của bầy ngựa hoang

review đã lâu, gửi Hoa đọc Hoa bảo giọng báo chí quá, y như rằng, hehe. nên gom vào đây.

Lấy cảm hứng từ tên gọi và đặc thù của giống ngựa hoang Mustang phi nước đại trên các thảo nguyên vùng Tây Bắc Mỹ, Deniz Gamze Ergüven đã kể lại, bằng thứ ánh sáng điện ảnh đẹp đẽ, khởi phát từ cái nhìn lạnh lùng đầy đau đớn, câu chuyện bi kịch về năm cô gái mang trong mình dòng máu man dại đang bước sang tuổi trưởng thành.

Cách xa Istanbul không chỉ ngàn dặm địa lý, ngôi làng heo hút ven biển, nơi năm chị em nhà Lale sinh ra và lớn lên, còn bị cô lập với thế giới hiện đại bên ngoài bởi những quan niệm bảo thủ, lạc hậu trong cái nhìn về tình dục và phụ nữ.

Continue reading MUSTANG – Sự tháo chạy của bầy ngựa hoang

Cấu thức cuộn-giở của Những thành phố vô hình

Tôi đã thử kết nối 55 thành phố bằng một nét bút, theo tổ chức thứ tự các thành phố của Calvino (1 2 1 3 2 1 4 3 2 1/ 5 4 3 2 1/ 5 4 3 2 1/ 5 4 3 2 1/ 5 4 3 2 1/ 5 4 3 2 1/ 5 4 3 2 1/ 5 4 3 2 1/ 5 4 3 2 5 4 3 5 4 5) và có được một cấu thức cuộn-giở hài hòa, tinh tế như những lọn sóng. Tôi chọn 5 điểm để kết nối những đường cong dựa trên việc một chuỗi bao gồm 5 tiểu đoạn thành phố, và giữa chúng có sự tương thông ý nghĩa. Cấu thức này cho phép tôi nghĩ Calvino triển khai trật tự ẩn hướng đến hai cực, nơi bắt đầu và điểm kết thúc, mà tôi gọi tên là cuộn-giở, một cấu thức đối xứng được nhấc bổng bởi sự lan tỏa lực giữa các điểm. Khi Pythagoras nói: “Con số là nguyên lí và nguồn gốc của mọi sự” và Galileo cho rằng: “Cuốn sách của tự nhiên được viết bằng ngôn ngữ toán học”, tôi luôn cảm giác về nó như một sự mơ hồ. Và khi chú mục vào cấu thức cuộn-giở này, tôi tin mình đã hiểu ra một vài thứ.

IC
Cấu thức cuộn-giở của Những thành phố vô hình

 

 

 

 

Những thành phố vô hình, giữa hình dung và sự nhìn thấy

Lần đầu đọc Calvino là khi tôi học lớp 10. Tôi còn nhớ sau giờ học thầy Nhật Chiêu chiều hôm ấy, đầu tôi chỉ nhớ mỗi tên sách Nam tước trên cây (phần còn lại vở nó nhớ hộ tôi), tôi phi như bay ra nhà sách Hà Nội (nhớ đến Sài Gòn những năm học cấp 3, tôi vẫn thường nhớ những lúc mình phi như bay ra đây để tìm đọc sách, ngay sau khi thầy cô giới thiệu về một cuốn sách hay) mua nó, và đọc trong một đêm. Calvino đã ở trong tôi, hiện hữu lờ mờ. Sinh nhật lần thứ 16, cô Trà Mi tặng tôi cuốn Hiệp sĩ không hiện hữu. Tôi đọc và thích thú tới nỗi đã mua 1 cuốn tặng 1 bạn, 1 bạn tôi nghĩ sẽ thích, trước ngày bạn đi thi, bạn ấy bảo có rồi nên không nhận, quê gì đâu (nhưng có lần bạn ấy cũng tặng tôi một thứ tôi đã có, tôi cũng từ chối, và bạn bảo có rồi thì có thêm, tôi cũng quê gì đâu). À để nói là cứ nhớ đến Calvino, tôi sẽ nhớ cảm giác phi như bay và quê gì đâu. Đến giờ, Calvino vẫn là nhà văn tôi yêu mến. Calvino dạy tôi nhiều thứ, là người khiến tôi dần trưởng thành.

Một vài thứ tôi nghĩ khi đọc Những thành phố vô hình, bản dịch tiếng Việt. Tôi cũng nhiều xúc động khi nghĩ đến dịch giả tuyệt vời của cuốn sách, bác Vũ Ngọc Thăng. Trong đời đọc còn dài, tôi thật may mắn khi được cầm trên tay bản dịch này, một cuộc gặp gỡ đẹp đẽ. 

Đọc sách là một trải nghiệm rất cá nhân, mà với tôi, là đi tìm sự thấy những tích đọng nhìn, chẳng ai, cũng chẳng là gì khác, những tồn tại ý thức tụ đóng bên trong. 

Continue reading Những thành phố vô hình, giữa hình dung và sự nhìn thấy